Trong hoạt động xuất nhập khẩu, việc hàng hóa gắn nhãn hiệu kèm ký hiệu ® không chỉ là dấu hiệu thương mại mà còn thể hiện tình trạng bảo hộ pháp lý của nhãn hiệu. Nếu doanh nghiệp sử dụng sai hoặc vượt quá phạm vi bảo hộ thực tế tại Việt Nam, đây có thể bị xem là hành vi chỉ dẫn sai về quyền sở hữu công nghiệp và kéo theo nhiều rủi ro pháp lý trong lưu thông hàng hóa. Vì vậy, kiểm tra đúng tính pháp của ký hiệu ® là bước quan trọng để doanh nghiệp bảo đảm tuân thủ pháp luật, hạn chế xử phạt và bảo vệ hoạt động kinh doanh.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh
Căn cứ Điều 7 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN có quy định về Hành vi vi phạm quy định về chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp như sau:
“1. Hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP được hiểu là việc cung cấp thông tin chỉ dẫn gây hiểu sai lệch rằng đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam mặc dù không được hoặc chưa được bảo hộ, kể cả trường hợp đối tượng đó đã nộp đơn đăng ký nhưng chưa được cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ đã bị hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực hoặc hết thời hạn bảo hộ tại thời điểm thực hiện việc chỉ dẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, bao gồm:
a) Gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về việc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: “nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền”, “nhãn hiệu được bảo hộ”, “nhãn hiệu thuộc độc quyền của…” hoặc chỉ dẫn có ý nghĩa tương tự, kể cả việc sử dụng ký hiệu ® (chỉ dẫn về việc nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam).
Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu ® mà trên hàng hóa, bao bì hàng hóa (bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu) có chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP;”.
Đối với nhãn hiệu của Nhà sản xuất đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam thì được ghi ký hiệu ® trên nhãn hàng hóa
Đối với nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam cho bên sản xuất, mặc dù doanh nghiệp chỉ là bên trung gian thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, nhưng việc nhập khẩu, lưu thông hàng hóa mang nhãn hiệu vẫn được coi là hành vi “sử dụng nhãn hiệu” theo mục c, khoản 5, Điều 124 Luật SHTT:
“Điều 124. Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
5. Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:
c) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.”
Việc thể hiện ký hiệu ® trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hoặc nhãn phụ là phù hợp với quy định pháp luật. Ký hiệu này thể hiện rằng nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam và không phát sinh rủi ro về hành vi chỉ dẫn sai tình trạng pháp lý.
Ví dụ, nếu Nhà sản xuất đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu ABC tại Việt Nam đối với nhóm hàng linh kiện điện tử, thì việc ghi ABC® trên bao bì sản phẩm là hợp lệ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp thực hiện hoạt động này cần có sự cho phép hợp pháp từ chủ sở hữu nhãn hiệu (ví dụ: thông qua hợp đồng phân phối, hợp đồng li-xăng hoặc văn bản ủy quyền). Nếu không có căn cứ pháp lý phù hợp, doanh nghiệp trung gian vẫn có thể bị coi là thực hiện hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo Điều 129 Luật SHTT, dù không trực tiếp sản xuất hàng hóa.
Doanh nghiệp cần kiểm tra tình trạng bảo hộ của nhãn hiệu tại Việt Nam, yêu cầu đối tác cung cấp tài liệu chứng minh quyền sử dụng nhãn hiệu,…… để xuất trình khi cần thiết, đặc biệt trong trường hợp cơ quan hải quan kiểm tra.
Xem thêm: Tra cứu nhãn hiệu trên nền tảng WIPO PUBLISH của Cục Sở hữu trí tuệ
Đối với nhãn hiệu của nhà sản xuất chưa được cấp Giấy chứng nhận thì việc sử dụng ký hiệu ® bị coi là chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý
Đối với nhãn hiệu chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam, doanh nghiệp trung gian vẫn đối mặt với rủi ro pháp lý nếu nhãn hiệu đó trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam cho bên thứ ba khác. Theo Điều 6 Luật SHTT, quyền đối với nhãn hiệu chỉ phát sinh trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ, do đó việc nhãn hiệu đã được sử dụng hoặc đăng ký tại nước ngoài không đảm bảo tính hợp pháp tại Việt Nam.
Trong trường hợp nhãn hiệu của Nhà sản xuất chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam, bao gồm cả trường hợp mới nộp đơn đăng ký, đang trong quá trình thẩm định, hoặc chỉ được bảo hộ tại nước ngoài mà chưa đăng ký tại Việt Nam, việc sử dụng ký hiệu ® bị coi là chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý của nhãn hiệu theo Điều 7 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, do có khả năng làm cho người tiêu dùng hiểu rằng nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam.
Ví dụ, nhãn hiệu XYZ đã được đăng ký tại Nhật Bản nhưng chưa nộp hoặc chưa được cấp văn bằng tại Việt Nam; nếu trên hàng hóa nhập khẩu lưu thông tại Việt Nam chỉ ghi XYZ® mà không có bất kỳ giải thích nào, thì có rủi ro bị xem là hành vi chỉ dẫn sai tình trạng pháp lý.
Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép sử dụng ký hiệu ® trong trường hợp trên nhãn hàng hóa hoặc nhãn phụ có ghi rõ, trung thực thông tin về tình trạng bảo hộ của nhãn hiệu tại Việt Nam. Chẳng hạn, có thể bổ sung chú thích như: “Nhãn hiệu đã đăng ký tại Nhật Bản, hiện chưa được bảo hộ tại Việt Nam” hoặc nội dung có ý nghĩa tương tự. Khi đó, việc sử dụng ký hiệu ® sẽ không bị coi là hành vi vi phạm do không gây hiểu sai lệch về phạm vi bảo hộ tại Việt Nam.
Đối với nhãn hiệu đã bị bên thứ 3 tại Việt Nam đăng ký bảo hộ
Đối với doanh nghiệp đóng vai trò trung gian xuất nhập khẩu, dù nhãn hiệu có nguồn gốc “chính chủ” từ nước ngoài, nhưng nếu tại Việt Nam quyền đã thuộc về bên thứ ba, thì việc nhập khẩu, lưu thông hàng hóa mang nhãn hiệu đó vẫn bị coi là hành vi xâm phạm quyền theo Điều 129 Luật SHTT.
Trường hợp này cần đánh giá nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ của bên thứ ba có xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của nhà sản xuất hay không? Và yêu cầu nhà sản xuất thực hiện hoặc ủy quyền thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của bên thứ ba đã được cấp văn bằng bảo hộ.
Để biết thêm thông tin chi tiết về các thủ tục, dịch vụ vui lòng liên hệ Suntrust để được tư vấn và hỗ trợ.










